Chữa bệnh cho bé

Chữa bệnh cho bé
Mỗi ngày biết một bệnh

Bé biếng ăn quá

Bé biếng ăn quá
Phương pháp giúp con ăn ngon

Nuôi con thành tài

Nuôi con thành tài
Bí kíp nuôi con dạy con thông minh

Hạnh phúc gia đình

Hạnh phúc gia đình
Anh và em cùng con của chúng ta...

Ba người đàn bà

04/06/2008

Hai người đàn bà xinh đẹp nhất mà tôi từng biết đến trong đời là dì Phương và Adeline - người chị họ lai Pháp. Hai người ấy chẳng những nhan sắc mà lại còn rất đỗi tài hoa.

Dì Phương là người cùng xóm tôi ngày trước ở Việt Nam, qua đây gặp lại. Mẹ tôi coi dì như em út, dì coi tôi như đứa cháu trong nhà. Tính nết dì Phương rất ôn hòa. Không bao giờ bắt gặp ở dì một cái vui quá trớn, một cơn giận sập nhà. Cái đẹp ở dì cũng vậy. Nó không lồ lộ, rạng rỡ mà ẩn chìm, vời vợi, mà lại làm say được lòng người. Cứ nhìn cô ấy kìa. Môi cũng đẹp, tóc cũng đẹp…còn mũi cũng đẹp nữa phải không. Mà lại có duyên. Dì biết chơi đàn thập lục, ngâm thơ rất hay, mỗi khi lên sân khấu thì hay mặc áo tứ thân, đội khăn mỏ quạ, nhìn như người con gái của xứ Bắc từ thế kỷ trước. Dì Phương sống rất trung dung. Dì ngâm thơ giỏi mà tráng bánh cuốn cũng rất hay. Không bao giờ dì để chồng phải than phiền về một bát canh nấu hơi mặn, một dĩa rau luộc chưa mềm. Đời sống bên Mỹ không làm gián đoạn những hoạt động văn nghệ của dì. Dì Phương nói:” Dì ghiền thơ lắm. Không có thơ sống không nổi. Mà thơ hay lắm cháu biết không. Này nhé. Trăm nghìn gửi lạy tình quân. Cái tình của người đời xưa thấy nó tương tri tương kính thế nào.” Chồng dì Phương không phải là người say mê thơ phú. Ông để hết thì giờ vào việc xây nhà, xây cho thiên hạ và cho chính mình. Hai vợ chồng tậu được một trang trại ở bìa rừng, vào sâu chút nữa là cái đầm nước bỏ hoang, lau sậy chằng chịt. Đầm nước này ăn thông với một cái hồ lớn, khoét lõm vào trong núi. Chẳng có ai tìm tới đây trừ thỏ, sóc, chồn, nai hoặc vài ba gã muốn tiêu sầu bằng cách câu cá. Khu đất nhà rộng mênh mông, tha hồ cho chồng của dì cưa, bào, đục, đẽo. Ông xây một dãy nhà ngang gồm ba phòng liền nhau, phòng nào cũng đầy đủ tiện nghi bếp núc rồi đăng báo cho mướn. Thu nhập này khiến hai vợ chồng sống thong thả cho tới già. Cạnh đó ông còn xây thêm một cái gác chuồng cu, gọi là doll-house để vợ ông…chơi. Doll- house trông giống như một cái chòi bên ngoài phủ rơm, bên trong là gỗ rất chắc chắn bắc de ra từ cái mái của tòa nhà chính. Trên ấy vừa đủ hai ba người ngồi quây quần, có một cái ấm nấu nước, một cái bếp tí hon, một ít xoài ngâm cam thảo và đôi ba tập thơ. Ngồi trên cái gác chuồng cu ấy còn sướng hơn là ở trên mây bởi vì nó ấm áp, không sợ mưa ướt, gió tạt mà còn thấy được cả một thiên nhiên hết sức huyền hoặc. Trăng sao, đồi núi…muôn loài. Dì Phương bảo: "Hôm nào cháu lên đây ngủ một đêm với dì. Không phải ai cũng có được cái view như thế này để thưởng thức đâu. Nhìn hoài cũng không chán cháu à. Nhất là những đêm có trăng thường có hai con vật gì giống như chuột nhưng to như mèo hay chạy ra kiếm ăn. Có lẽ chúng là một cặp, con đi trước là con đực, con đi sau là con cái, nhỏ hơn. Lông của chúng sáng trắng, dựng tua tủa, trông kinh dị lắm. Chúng vừa chạy, vừa ăn, vừa trửng giỡn…Ối trời ơi. Gớm lắm. Nếu hai con ấy mà nhảy bổ vào mình chắc mình té xỉu mất.” Dì Phương vừa kể vừa rụt cổ. Chồng của dì cười: "Em nói làm như ghê gớm lắm. Mấy cái con quỉ đó chấp mười con anh cũng không sợ.” Mẹ tôi đùa: "Vậy chớ chú sợ thứ gì trên đời?” Ông cười nhìn xuống đôi bàn chân trắng hồng mũm mĩm của vợ trong đôi dép có hai quai bắt chéo nói với mẹ tôi: "Chị coi chân vợ em giống như chân của Marilyn Monroe.” Mẹ tôi nói lén: "Cái ông này lụy quá trời.”

Dì Phương là một người may mắn, là tiên trên đời chứ chẳng chơi vì dì trẻ hơn chồng nhiều tuổi. Chồng của dì không có thói quen bù khú nhậu nhẹt hoặc bồ bịch lăng nhăng. Ông nói: "Mất công lắm. Tui không thèm.” Mà quả là ông không thèm thật. Lúc nào ông cũng chịu khó chở vợ đi họp bạn nhưng dù người ta mời cách mấy ông cũng nhất định không vào chơi, lang thang một mình suốt ngày ngoài bờ ngoài bụi cho tới tối thì ông xách xe tới rước về. Những lúc vợ đi ngâm thơ thì ông cũng tò tò đi theo, xách bịch đồ hóa trang vào tận hậu trường nhưng cũng không khi nào bước chân ra hàng ghế khán giả. Tan buổi biểu diễn trong khi vợ ông lăng xăng với những câu phỏng vấn, những tràng vỗ tay thì ông lui cui xếp dọn y trang, khiêng những thùng đạo cụ ra xe cũng như không quên đem về tất cả những bó hoa của người hâm mộ, cắm cẩn thận vào bình. Làm như ông có cái thú trong sự ẩn nấp đâu đó dưới cái bóng thênh thang của vợ. Nó tạo cho ông cảm giác dễ chịu thay vì sự xuất đầu lộ diện chỉ làm ông thêm lúng túng. Có người nói đùa "Vợ hát, chồng kéo màn.” Ông cười dễ dãi: "Vậy cũng xứng chớ.” Ông nói với mẹ tôi: "Chị biết không mấy thằng bạn nói em sao dám lấy vợ nghệ sĩ.” Rồi ông tự trả lời: "Vậy mà chị thấy đó. Tụi em vẫn sống phây phây. Có gì đâu. Phương là người đàn bà đứng đắn. Cô ấy không thích đi ngang về tắt.” Chồng dì Phương thuộc làu từng đôi bông tai, từng cái kẹp tóc, từng cái áo nào phải mặc cho mỗi lớp diễn. Trong hậu trường dù đã có người hóa trang chồng của dì vẫn luôn luôn chàng ràng bên cạnh vợ, săm soi kỹ lưỡng: "Thêm chút phấn bên trái, thêm chút hồng bên phải em à. Ấy, ấy, đừng làm đậm quá.” Thật là một người chu đáo. Ấy vậy mà có một điều rất buồn cười là dù đã theo vợ qua bao nhiêu xuất diễn, bao nhiêu lần thu thanh, thu hình ông vẫn không hề thuộc một câu thơ nào. Ngoài sân khấu mặc cho trống nện thùng thùng, mặc cho đàn, phách có kêu réo tới đâu trong hậu trường ông cứ kéo cái ghế bố nằm thẳng lưng coi báo. Kể cũng vô tâm nhỉ - có người bảo. Dì Phương cãi lại: "Hôm qua anh ấy kết mấy hạt cườm trên áo dài cho em tới gần nửa đêm. Khuya đi diễn về là có tô cháo nóng. Người như vậy mà gọi là vô tâm?” Chồng dì cười xòa. Ai nói gì nói, chấp người ta làm gì.

Adeline (gọi tắt là Lin) - chị họ tôi - là người mang những cá tính hoàn toàn đối lập với dì Phương. Chị như một cái cân không bao giờ ở vị trí cân bằng, hoặc chúi xuống đầu này hoặc trĩu đằng đầu kia. Cái vui của chị lúc nào cũng như giông như gió, cái giận của chị lúc nào cũng bốc đến tận trời. Ba của chị người Việt mà mẹ là người Pháp nên chị có nước da rất trắng, tóc đen dài mà mắt thì nâu. Những nét pha trộn giữa đông và tây làm chị trở thành độc đáo và chị luôn luôn làm mọi cách cho mình trở thành độc đáo. Hai mươi năm trước khi tôi còn ở Việt nam thì chị từ bên Pháp về chơi thăm gia đình. Lúc ấy tôi còn đi học mà chị thì có lẽ là vừa chớm ba mươi. Hôm đi đón chị trời mưa rất lớn. Adeline trên phi cơ bước xuống, chạy thẳng ra ngoài mưa, nằm lăn ra cỏ như một con mèo tắm nắng (mà nay là mưa) khiến tất cả những người đang có mặt ở đó sững sờ còn hơn đang coi một màn múa thoát y. Có người đẩy vào lưng tôi: "Kéo cô đó vô đi, cảm lạnh chết.” Tôi mặc kệ đầu trần chạy ra kéo tay chị. Adeline giằng ra, lững thững bước vô le lưỡi liếm những sợi nước đang chảy lướt thướt trên mặt tươi cười nói: "Mưa đẹp quá.”

Adeline ở nhà tôi hơn một tháng. Tôi không thích chị. Chị nói năng, đi đứng, ăn mặc như một người từ hành tinh khác đến. Cùng đi với chị là một anh người Pháp mà chị bảo là bạn. Một người bạn ăn cùng mâm, ngủ cùng giường trong khi chị đã hứa hôn với một anh nào đó người Ý, đang chờ chị quay về. Chị hỏi:” Em có bồ chưa?” Tôi nói:” Chưa. Em còn đi học.” Chị cười nhếch mép:” Học thì học, bồ thì bồ. Em không thích đàn ông à?” Tôi đỏ bừng mặt. Adeline xa cha mẹ từ nhỏ, sống trong một đoàn hát rong, trôi nổi qua nhiều thành phố, nhiều quốc gia. Tôi hỏi mẹ: "Chị Lin không có chồng sao?” Mẹ đáp: "Cũng có. Nhưng mà là chồng chất.”

Anh người Pháp tên Dominique, tóc dài xấp xải cột lại bằng sợi dây thun. Anh ta lười biếng, ngủ dậy rất trễ, tắm xong lu nước thì không khi nào hứng nước khác đổ vào cho đầy. Anh ta thường ngồi bệt dưới đất chơi với con chó, con mèo, quần áo nhếch nhác bẩn thỉu. Anh ta không phá phách gì ai thỉnh thoảng ra đầu ngõ mua bia, mua thuốc lá, có vẻ là một người vô hại. Chị Hai tôi hậm hực: "Không hiểu chị Lin đem ông này về làm gì. Khó coi lắm.” Mẹ tôi nói: "Thôi kệ, người ta ở chơi ít bữa rồi đi.” Chị Hai nói: "Mẹ coi chừng đó. Hôm bữa con Hiền nhà bà Tư nói ông này kiếm cớ qua nhà nó hỏi mua dừa rồi nổi xung tới ôm đại nó. Nó sợ quá đẩy ổng ra, xém chút nữa té xuống ao. Con méc lại với chị Lin. Chỉ không la ổng mà còn cười giỡn. Chỉ nói ổng bộ hổm rày thiếu lắm rồi sao. Thấy chướng không chịu được.” Tôi thấy mình xa cách Adeline kinh khủng, xa tới hàng thế kỷ.

Một lần Adeline hỏi tôi:
-Em có cái tampon nào không cho chị xin. Tôi hỏi lại:
-Tampon là cái gì?
Chị nói:
-Là cái để…xài hàng tháng.
Tôi đưa ra một miếng băng, hiệu Bạch Tuyết, loại thông dụng lúc bấy giờ. Chị bảo:
-Không phải cái này.
Tôi hỏi:
-Vậy chớ cái gì?
Chị bĩu môi, vẻ như không tin:
-Sao mà quê quá vậy.
Vài bữa sau chị kéo tôi lại, đưa ra một vật:
-Đây là tampon.
Tôi ngơ ngác hỏi:
-Như vầy thì làm sao xài?
-Phải để vào trong.
-Làm sao để được?
Chị nhìn tôi bỡn cợt:
-Vậy chớ em chưa bao giờ để cái gì vào trong sao? Như thế này…như thế này…
Chị vừa nói vừa làm một cử chỉ minh họa. Mặt tôi đỏ rần. Bằng một cái giọng đã đớt chị bảo:
-Cái đó…thích lắm nhé... Muốn thử không? Có gì mà sợ.

Tôi không rõ lắm những điều Adeline nói, đại khái hiểu rằng đó là những chuyện kín đáo, thậm chí bậy bạ. Chị lấy tay bẹo vào má tôi. Tôi lùi lại, chống hai tay vào vách nhà nhìn cặp chân mày đang nhướn cong lên của chị. Coi mày kìa - có phải chị đang nghĩ như thế này không - mấy cuốn sách giáo khoa, bình mực tím, mấy bài vọng cổ, những cái hoa phượng ép trong vở… Mày sẽ chẳng hiểu cái cóc khô gì trên đời này hết. Tôi căm ghét chị và thầm mong cho mình đừng bao giờ gặp lại con người đó nữa. Sau lần đó Adeline không trở về Việt Nam cho đến hai mươi năm sau tôi mới có dịp gặp lại. Lúc này tôi đã ở Mỹ, có chồng có con, còn Adeline trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp, tạo được tên tuổi và lập được một đoàn hát riêng đi lưu diễn khắp nơi trên thế giới. Dù vậy chị vẫn không có chồng - hay đúng hơn là vẫn chồng chất như cái cách nói của mẹ tôi.

Ngày xưa Adeline sừng sững, ngang tàng trước mắt tôi bao nhiêu thì bây giờ tàn tạ, héo úa bấy nhiêu. Hai hàm răng trắng đẹp rực rỡ của chị trước đây nay đã ố vàng khói thuốc. Nhìn chị tôi liên tưởng đến một trái cam chỉ còn vỏ, không còn nước, đến một con mèo già ngày ngày liếm lấy bộ lông xơ rơ, cứng cụm của mình. Chị đưa tôi coi nhiều bài báo của những trường đại học danh tiếng viết về chị cũng như đoàn hát của chị. Bây giờ người ta gọi chị là nhà biên kịch, nhà đạo diễn. Dì Phương và mẹ làm cơm đãi chị, có mời một anh nhà báo đến dự. Anh này còn trẻ, có lẽ trẻ hơn Adeline, đeo kính trắng, vẻ như học trò. Adeline chọn một chỗ ngồi ở góc phòng, cố ý để ánh đèn chỉ chiếu có nửa mặt, tóc đùa sang một bên vai, người hơi chếch về một phía, nghĩa là đúng phong phóc những bài bản sân khấu mà có lần tôi nghe chị nói qua khi trò chuyện với dì Phương. Anh nhà báo xoắn lấy chị, khi trao ly rượu, khi mời điếu thuốc. Chị nói chuyện với anh ta, dĩ nhiên là nói về những tác phẩm của chị. Anh nhà báo như bị hớp hồn, vừa nói vừa lấy sổ ra ghi chép. Anh bảo: "Chỉ có những cuộc đời giông bão mới làm nên những tác phẩm giông bão phải không chị?” Adeline mỉm cười, mân mê chuỗi hạt đeo trên cổ rồi bỗng đột ngột quay sang tôi, ngước lên nhìn tấm ảnh vợ chồng con cái của tôi treo trên tường hất hàm hỏi: "Tác phẩm của em đấy à?” Tôi bắt gặp ngay cái hơi hướm nhạo báng trịch thượng của chị trong câu nói làm ra vẻ vô tư ấy. Lập tức những cảm giác của hai mươi năm trước khi tôi là đứa con gái nhà quê bị chế nhạo bừng bừng sống lại. Chị hỏi: "Em năm nay bao nhiêu tuổi?” Tôi đáp: "Em ba mươi sáu tuổi.” Rồi tôi hỏi lại: "Còn chị bao nhiêu tuổi?” Chị làm thinh, mặt trân lại. Tôi nhìn anh nhà báo rồi nhìn sang chị cố ý nói thật chậm, thật đẩy đưa, đầy vẻ khiêu khích: "Tại sao khi chị hỏi em bao nhiêu tuổi thì em trả lời còn em hỏi chị bao nhiêu tuổi thì chị không trả lời? … Có gì mà sợ.” Hai mắt Adeline long lên, môi tím lại. Tôi đã quất chính xác vào chỗ nhược của chị rồi, quất thẳng tay để trả thù. Tôi sướng đã đời dù thấy rằng mình cũng hèn không kém gì chị.

Tôi biết rõ sự oán ghét của mình đối với Adeline nằm ở đâu. Sự coi thường những giá trị truyền thống ở chị làm tôi phẫn nộ. Dì Phương thì khác. Dì không bao giờ bình phẩm ai, chế giễu ai. Dì có một đời sống giản dị, dung hòa. Tháng vừa rồi là kỷ niệm hai mươi năm ngày cưới, vợ chồng dì tổ chức tiệc rượu linh đình, mời mọc bạn bè rất đông đến trang trại của mình. Khu đất đó còn hoang vu, tên đường còn chưa được cập nhật trên bản đồ nên cách xa từ mười dặm là dì phải đặt một tấm bảng hướng dẫn trên treo một chùm bong bóng cho khách dễ nhận ra. Thức ăn thịnh soạn. Ban nhạc chơi hết mình. Người ta đập bồn đập bát suốt đêm. Mỗi người khách ra về còn được tặng một cái bánh sô-cô-la nho nhỏ trên có hai chữ Phương-Hùng. Đêm đó, rồi đêm sau nữa tôi ở lại chơi nhà dì, ngủ trên cái doll-house. Tôi hỏi: "Dì Phương ơi, làm sao giữ được gia đình bền vững hả dì? Vợ chồng cháu mới ở với nhau được 9 năm. Dì dượng ở với nhau được hai mươi năm rồi.” Dì Phương vừa chấm nước sơn vừa phết nhẹ nhẹ lên những cái móng hồng hồng xinh xắn nói thủ thỉ: "Chẳng biết nói thế nào cháu à. Cái chính là đừng để lòng mình vọng động, hướng về những giá trị truyền thống…Cũng phải chịu những mất mát…” Tôi nói:

-Chị Lin coi thường những giá trị đó lắm.
-Lin có lối suy nghĩ khác. Cách đây bảy năm nó lấy chồng, một người chồng danh chánh ngôn thuận đầu tiên của nó. Đang ở với người ta thì nó lại chứng nào tật nấy, hẹn hò lén lút với cái thằng làm mộc trong đoàn hát rồi sau đó quay về, tỉnh bơ như không có chuyện gì. Nó nói những người đứng bên ngoài cứ việc nhìn vào phê phán, còn người trong cuộc thì không có lỗi gì cả. Hoặc giả như cảm thấy mình có lỗi thì cũng nhắm mắt luôn. Nó nói con người ta sống phải sống cho hồn nhiên…
-Chị Lin bây giờ sống với ai dì có biết không?
-Sống một mình cháu à. Cũng không còn tiền bạc gì đâu. Nó đang viết hồi ký, hy vọng kiếm được một số tiền dưỡng già.
-Chị Lin già nhanh quá.
-Đàn bà trên bốn mươi xuống dốc nhanh lắm cháu à. Chỉ còn ảo tưởng.
Dì Phương nói xong bất giác thở dài.

Gió hú từng chập trên những ngọn cây xung quanh cái doll-house. Sao nhấp nháy nhẹ nhàng trên cánh rừng đêm tịch mịch. Có tiếng những trái thông rụng rớt trên mái nhà nghe lộp bộp. Dì Phương nằm gối đầu lên cánh tay đọc khe khẽ một đoạn thơ:
Em gái ơi
Này có bao giờ em biết
Đêm của đời người đêm có bao giờ qua
Ta đã nghe từ vạn cổ
Tiếng côn trùng miên man điệp điệp
Tiếng gióng giả của đam mê
Tiếng buồn thiu dai dẳng của sự ăn năn…
Em gái ơi
Này có bao giờ em biết
Sự trong sạch của tâm hồn
Nhiều khi cũng phải lau bằng những tấm giẻ của niềm tiếc nuối...

Tấm nệm dã chiến phập phều, sàn gỗ kêu cọt kẹt làm tôi không ngủ được. Tôi vặn lớn ngọn đèn, tìm quyển sách đọc cho đỡ buồn. Trong ấy rơi ra tấm ảnh cũ của Adeline dạo còn rất trẻ. Lin là người sống với những tình cảm bất chợt, những hứng khởi nhất thời. Chấp nhận một đời sống nâu sồng thường nhật tức là chấp nhận những mất mát. Trong đời một người đàn bà đã có chồng, phải chăng vẫn còn ẩn chứa mịt mùng những rung cảm tự nhiên, những ước muốn mập mờ khi bắt gặp một tâm hồn đồng điệu? Sự vọng động của lòng người - dì Phương ơi, cháu đang nghĩ đến chính mình đây - có dễ dàng xóa sạch được hay không? Nghĩ đến chuyện đi ngang về tắt rồi thản nhiên quay về ăn nằm với chồng, ăn nằm trên sự tôn trọng và tin tưởng của chồng như Adeline tôi cảm thấy bất nhẫn. Chẳng thà tôi khép lại ngực mình rồi buông bỏ. Chẳng thà tôi sống không hồn nhiên như thế này. Ngày mai, trời ấm dần, tôi sẽ cùng hai đứa trẻ gieo hạt trồng hoa trên mảnh vườn sau nhà. Hoa dại rất dễ trồng, bén đất nhanh, chỉ vài tháng là nở đủ màu đủ sắc. Trên khung ảnh mới của gia đình sẽ có thêm những bông hoa đó…

Đêm xuống rất khuya. Tôi vừa thiếp đi thì bị bàn tay của dì Phương lay dậy. Dì kéo tôi đến gần, quì gối trên sàn gỗ, mặt gác lên khung cửa sổ chăm chú nhìn ra ngoài. Trăng đang mờ bỗng sáng lên một cách tinh quái. Cả không gian rùng mình, động đậy. Đầm nước xa xa sáng lấp lánh, từng bụi lau sậy sáng lấp lánh và gần hơn cả, rõ mồn một hơn cả dưới trăng là hai con vật mà dì Phương từng kể lại đang lần mò ra kiếm ăn. Con lớn hơn, có lẽ là con đực, chạy trước, con theo sau là con cái. Chúng sục mũi xuống lớp lá cây, ủi bật lên, hai cái đuôi dài quật qua quật lại. Đất tung lên rớt xuống nghe rào rào. Có lúc chúng dành ăn, húc vào nhau. Khi đã no nê chúng vật lấy nhau mà trửng giỡn, con nọ cắn cổ con kia, phát ra những tiếng kêu khi phì phì, khi the thé. Lớp lông của chúng màu sáng bạc, loang lở, dựng lên tua tủa, lấp lánh như những sợi lân tinh. Dì Phương choàng tay xiết chặt lấy tôi, kề tai thầm thì như hụt hơi:” Ối, ối, có phải hai con vật ấy đang làm…đang làm….Trời ơi, coi kìa…Trông chúng đẹp quá, đẹp quá.” Hai mắt dì lóe sáng, dì như đang sắp nhảy chồm ra khỏi khung cửa sổ. Mồ hôi hai bên thái dương của dì bết cả sang tôi. Tôi kinh hãi rúm người lại. Từ sau đêm đó tôi không khi nào ngủ lại nhà dì Phương trên cái doll-house nữa.

Ít lâu sau tôi nghe tin vợ chồng dì Phương li dị. Họ chia tay êm thắm, không ồn ào. Mỗi người giữ lấy phần của mình theo quyết định của tòa án. Nghe nói dì Phương say mê một gã trong đoàn văn nghệ dân tộc. Gã này không có tiền bạc nhưng trẻ hơn và biết ngâm thơ. Chồng dì Phương đến thăm mẹ tôi trước ngày dọn qua một tiểu bang khác. Ông không rên rĩ than khóc hay oán trách vợ nhưng già đi rất nhiều. Ông nói: "Phương không đi ngang về tắt. Cô ấy nói thẳng với em rồi đi luôn.”
Năm tháng qua mau. Bây giờ thì không ai còn biết tin tức gì về hai người đàn bà tên Phương và Adeline nữa. Cuộc đời của họ, phước phần của họ ra sao chỉ mình họ biết. Cái doll-house, khu đầm lầy và hai con vật ma quỉ kia cũng không còn. Căn nhà của bà Phương bán lại cho người khác, rồi cho người khác nữa. Về sau những người đầu tư mua lại toàn bộ khu đất đó. Họ kéo sập những căn nhà, phát quang rừng rậm, dọn sạch đầm lầy rồi xây dựng lên nhà hàng, khách sạn, sòng bài, câu lạc bộ thuyền buồm, khu vui chơi cho trẻ em. Những cái máy chơi cờ bạc kêu leng keng giòn giã, rượu chảy tràn như suối. Những cái xe đạp nước hình con ngỗng con chim bơi ngang dọc trên mặt hồ, sủi bọt tưng bừng. Những chiếc xe đua xịt khói mù trời. Có một người đàn bà đến đó nghỉ mát - người đàn bà xưng “tôi” trong chuyện này. Bà đi với chồng, con và một đàn cháu nội ngoại ríu rít, lớn nhỏ tung tăng xung quanh. Người chồng có vẻ hài lòng, gật gù mãn nguyện. Ông nằm xuống cỏ, thả khói thuốc lơ mơ. Những đứa cháu mướn một chiếc thuyền bơi tay chở bà ra hồ, đứa chèo mũi đứa chèo lái. Bà lão cười móm mém nhìn đứa cháu nhỏ nhất gỡ lấy một sợi tóc bạc dính trên áo bà thả xuống dòng nước. Bà ôm cháu vào lòng nhìn sợi tóc trắng của mình lững lờ nhấp nhô khe khẽ hát"

Thời thanh xuân của ta ơi
Những cái được và những cái mất
Ta có bao giờ, có bao giờ
Dẫm lên trái tim người khác
Để vói lấy một điều gì đó cho chính mình
Nước mắt của ta rơi
Nhưng nước mắt của người khác không rơi
Đó là cái được duy nhất của đời ta
Này sợi tóc, sợi tóc trắng đang trôi xa
Phải chăng đó là cái được tuyệt vời nhất trên thế gian
Hay là cái được ngu xuẩn nhất trên thế gian?
Mà ta băn khoăn làm gì, băn khoăn làm gì
Khi ta chẳng còn bao nhiêu ngày tháng
Khi thân thể ta đang rệu rã như một bờ đất sụp
Khi bàn tay ta chẳng còn nắm được bao lâu nữa cái được duy nhất của đời mình
Trên chiếc thuyền này
Trên mặt hồ này
Ta còn được bao lâu?
Hỡi trời nước vô cùng…

Bà lão hát một hồi ngoẹo đầu lắc lư thiu thiu ngủ. Đứa cháu trong lòng bà cũng ngủ. Sợi tóc bạc chìm đâu mất. Nước hồ xanh dờn dợn. Sóng vỗ vào mạn thuyền lấp xấp. Bà lão an cư trong bóng chiều của đời mình, bóng chiều tuyệt không có một tiếng động nào khác.

Cao Thanh Phương Nghi - Tháng 2/2008

1 tin nhắn:

ThiênThanh nói...

Hay và thực tế

17:31 15 tháng 7, 2008

Đăng nhận xét

 

2009 ·Vợ chồng trẻ - Làm cha mẹ - Mẹ và bé - Cha mẹ trẻ - Vochongtre.com | Nội dung do các Bác sĩ mê con nít. Liên hệ suckhoegd@gmail.com | Quảng cáo: Mr.Cường 0944.462.569