Chữa bệnh cho bé

Chữa bệnh cho bé
Mỗi ngày biết một bệnh

Bé biếng ăn quá

Bé biếng ăn quá
Phương pháp giúp con ăn ngon

Nuôi con thành tài

Nuôi con thành tài
Bí kíp nuôi con dạy con thông minh

Hạnh phúc gia đình

Hạnh phúc gia đình
Anh và em cùng con của chúng ta...

Kẻ chết đuối đẹp nhất trần gian

23/06/2008

Những đừa trẻ đầu tiên trông thấy cái khối phồng sẫm màu và dật dờ từ ngoài biển trôi vào bèn cho đấy là một con tàu địch. Rồi không thấy cờ hay cột buồm gì hết, chúng nghĩ đó là một con cá voi. Nhưng khi nó dạt lên bãi cát rồi, chúng giật gỡ những rong rêu, tua sứa, xương cá và những mảnh tàu vỡ, và bấy giờ mới thấy đó là một người chết đuối.

Chúng chơi với anh ta suốt buổi chiều, cứ chôn xuống cát rồi lại đào lên, cho đến khi có người tình cờ trông thấy và chạy vào làng báo động. Những người khiêng anh ta đến căn nhà gần nhất để ý rằng anh nặng hơn bất cứ người chết nào xưa nay họ từng biết, nặng gần bằng một con ngựa, và họ bảo nhau có lẽ anh đã trôi quá lâu, nước đã thấm vào tận xương tuỷ. Khi đặt anh xuống sàn nhà, họ bảo anh cao hơn bất kì ai khác vì trong nhà chỉ vừa đủ chỗ cho anh, nhưng họ nghĩ có lẽ có những người chết đuối chết rồi mà vẫn cứ lớn lên. Anh nồng mùi biển và duy hình dạng anh khiến ta nghĩ được rằng đó là xác một con người, vì da phủ kín một lớp cứng bùn với vảy.

Họ cũng chẳng cần chùi mặt anh mới biết rằng người chết là một người lạ. Cả làng chỉ có ngoài hai mươi căn nhà gỗ với sân trải đá chẳng một bông hoa rải rác cuối một mũi đất cằn như sa mạc. Đất ít đến độ các bà mẹ lúc nào cũng ám ảnh với nỗi sợ gió cuốn bay mất con mình và thảng hoặc có người chết già thì phải đem lên vách đá xô xuống vực sâu. Nhưng biển hiền hoà và sung túc và bảy con thuyền đủ chứa hết đàn ông trong làng. Thế cho nên khi tìm ra ngưởi chết đuối họ chỉ cần nhìn nhau là thấy không thiếu mặt ai.

Đêm đó họ không đi biển hành nghề. Trong khi đàn ông sang các làng lân cận hỏi xem có ai mất tích không, đàn bà ở lại lo cho người chết đuối. Họ dùng những nắm cỏ chùi sạch bùn, gỡ những viên đá ngầm vướng trong tóc, và cạo cái lớp vỏ cứng bằng dao đánh vảy cá. Làm những việc ấy họ nhận ra rong rêu trên mình anh đến từ những đại dương xa vời vợi và từ dưới đáy nước sâu thẳm, và quần áo anh thì rách tả tơi như thể anh đã dạt qua hàng bao mê cung san hô. Họ cũng nhận ra anh mang cái chết của mình một cách kiêu kì, vì anh chẳng lộ cái dáng đơn côi như những người chết đuối khác từ dưới biển nổi lên hay cái dáng tiều tuỵ, cơ cực như những kẻ chết đuối ngoài sông. Nhưng chỉ khi lau chùi cho anh xong họ mới thấu rõ anh là nguời thế nào và điều đó làm họ đứng tim. Không những anh cao lớn, cường tráng, hùng dũng và cân đối hơn bất cứ ai họ từng biết, nhưng dù đang ngó anh họ cũng không thể nào tưởng tượng ra anh.

Họ không sao tỉm ra trong làng cái giường nào đủ lớn để đặt anh nằm lên, cũng chẳng có cái bàn nào thật chắc cho đêm canh xác. Quần ngày lễ của người cao nhất, áo chủ nhật của người mập nhất hay giày của người bàn chân to nhất, chẳng có gì vừa với anh. Mê hoặc vì vóc vạc khổng lồ và vẻ đẹp của anh, đám đàn bà bèn quyết định lấy một cánh buồm lớn may quần cho anh và lấy mấy cái khăn cô dâu bằng vải lanh Brabant may áo cho anh để anh vẫn được đàng hoàng trong cõi chết. Ngồi thành vòng tròn, vừa khâu vừa thỉnh thoảng ngước mắt ngó tử thi, họ tường như chưa bao giờ gió mạnh và biển động bằng đêm ấy và họ đoán đổi thay ấy chắc có liên quan gì đấy với người chết. Họ nghĩ giả như con người tuyệt vời kia sống trong làng này, nhà anh hẳn sẽ có cửa rộng nhất, trần cao nhất và sàn chắc nhất, khung giường anh hẳn sẽ là một sườn tàu với những chốt bằng sắt làm thành, và vợ anh hẳn sẽ là người đàn bà hạnh phúc nhất. Họ nghĩ hẳn anh có nhiều quyền lực đến độ anh chỉ cần gọi tên cá là cá từ dưới biển nổi lên, và hẳn anh chăm bón đất của anh đến độ suối sẽ vọt lên giữa đá tảng và như thế anh trồng được hoa trên các vách đá. Họ ngầm so sánh anh với chồng họ, nghĩ rằng chồng họ cả đời cũng chẳng làm nổi những gì anh chỉ cần một đêm là xong, và cuối cùng, tự trong đáy lòng, họ dè bỉu chồng họ là kẻ yếu hèn nhất, tệ mạt nhất và vô dụng nhất trên đời này. Họ đang miên man mơ màng như vậy thì người đàn bà lớn tuổi nhất – và vì là người lớn tuổi nhất nên đã ngó người chết đuối một cách xót thương hơn là mê say - thở dài mà bảo :

“Trông mặt anh ta giống như cái người tên là Esteban.”

Quả thế. Hầu hết bọn họ chỉ cần ngó lại anh một lần nữa là thấy anh không thể mang tên nào khác. Những người ương ngạnh nhất, tức là những người trẻ nhất, suốt mấy tiếng đồng hồ sau đó vẫn cố nuôi ảo tưởng khi mặc quần áo cho anh rồi, đặt anh mang giày da láng nằm giữa hoa phủ rồi, tên anh có thể là Lautaro. Nhưng đó là một ảo tưởng hão huyền. Vải buồm không đủ, chiếc quần cắt đã vụng và khâu lại còn tệ hơn thành quá chật, và sức mạnh ẩn giấu của trái tim anh bứt tung các nút áo. Sau nửa đêm gió thôi rít và biển lừ đừ như vào ngày chay tịnh. Sự tĩnh mịch khiến không còn ai ngờ vực gì nữa: anh là Esteban. Những người đàn bà đã mặc quần áo cho anh, chải đầu cho anh, cắt móng tay, móng chân và cạo râu cho anh không khỏi rùng mình tội nghiệp khi đành phải kéo lê anh trên mặt đất. Bấy giờ họ mới hiểu ra anh hẳn đã khổ sở biết chừng nào với tấm thân khổng lồ này vì chết rồi mà nó vẫn làm anh phiền hà. Họ tưởng tượng anh khi sống, phải cúi gập mình khi đi qua cửa, đầu va vào xà nhà, đến ai chơi thì cứ phải đứng, lúng túng với hai bàn tay to như loài sư tử biển, mềm oặt, đỏ hồng, trong khi bà chủ nhà tìm cái ghế vững chãi nhất, rồi, sợ muốn chết, mời anh, Esteban, ngồi đây nhé, và anh, lưng tựa vào tường, tươi cười, thưa bà, xin đừng phiền, tôi đứng đây có sao đâu, hai gót chân tê cứng và lưng nóng ran vì cứ xử sự như thế không biết đã bao nhiêu lần mỗi khi đến ai chơi, xin đừng phiền, thưa bà, tôi đứng đây có sao đâu, chỉ để khỏi xấu hổ làm gẫy ghế, và chẳng bao giờ biết rằng có lẽ những người nói đừng đi, Esteban, ít nhất hãy đợi cà-phê bưng ra đã, chính là những người sau đó lầm bầm cái thằng đần to xác về rồi, tốt lắm, cái thằng khùng điển trai đi rồi. Đấy là những gì đám đàn bà nghĩ ngợi bên cái xác lúc sắp rạng đông. Sau đó, lúc họ lấy khăn tay đậy mặt anh cho anh khỏi chói nắng, trông anh thật vĩnh viễn chết rồi, thật yếu đuối, thật giống chồng họ đến độ những lạch nước mắt đầu tiên bung ra trong tim họ. Người bật khóc đầu tiên là một trong những người trẻ nhất. Những người khác, tỉnh lại, thở dài rồi than van, và càng nức nở họ lại càng muốn khóc, vì người chết đuối với họ càng lúc càng thành Esteban hơn, và thế là họ khóc như mưa, vì anh, Esteban tội nghiệp, là kẻ bần hàn nhất, hiền lành nhất, và tốt bụng nhất trần gian. Thế nên, khi đám đàn ông trở về báo tin người chết đuối cũng không phải dân mấy làng bên, đám đàn bà dù đang đầm đìa nước mắt lại mừng rỡ.

“Tạ ơn Trời,” họ thở ra, “anh ấy là của ta.”

Đám đàn ông nghĩ um sùm thế ấy chỉ là cái tật bốc đồng của đàn bà. Mệt đừ vì đêm khuya khó nhọc đi dò hỏi, họ chỉ muốn rũ bỏ cho rồi cái chuyện bực mình là cái kẻ mới tới kia trước khi mặt trời lên cao trong cái ngày khô cằn, không một hơi gió này. Họ làm ngay một chiếc cáng bằng những khúc gẫy cột buồm với lao kéo cá, buộc chặt bằng dây buồm để cáng chịu được sức nặng cái xác cho đến khi họ lên tới vách đá. Họ định buộc vào anh cái neo một con tàu chở hàng để anh sẽ dễ dàng chìm xuống những lớp sóng sâu thẳm nhất, nơi cá thì mù loà và thợ lặn thì nhớ nhà mà chết, và những dòng nước dở dói sẽ không đưa anh trở lại bờ như từng xảy ra với những xác khác. Nhưng họ càng khẩn trương, đám đàn bà lại càng nghĩ cách kéo dài thì giờ. Họ đi loanh quanh như gà mắc đẻ, rổn rảng những buà đi biển đeo trên ngực, bên này một người chen vào đặt lên người chết đuối một cái lông chim cầu gió thuận, bên kia một người khác đặt lên mình anh một cái la bàn đeo tay, rồi sau một loạt những tránh ra, bà, đừng đứng vướng lối như thế, coi kià, chút nữa thì bà làm tôi té lên mình người chết, đám đàn ông sờn lòng và bắt đầu càu nhàu việc gì phải lấy nhiều đồ lễ bái thế cho một kẻ lạ, vì có dắt vào mình anh ta bao nhiêu sừng, bao nhiêu bình nước thánh đi nữa cá mập cũng đớp anh như thường, nhưng đám đàn bà vẫn không thôi chất vào những thánh tích linh tinh của họ, chạy tới chạy lui, ngã lên ngã xuống, không khóc lóc thì thở ngắn than dài, cuối cùng đám đàn ông hét tướng lên xưa nay đâu có bao giờ um sùm như thế vì một cái xác trôi lềnh bềnh, một kẻ chết đuối chẳng biết là ai, một khúc thịt lạnh tanh lạnh ngắt ngày ăn chay. Một người đàn bà, tủi hổ vì họ lãnh đạm đến thế, bèn nhắc cái khăn phủ mặt người chết lên và thế là đám đàn ông cũng đứng tim luôn.

Anh là Esteban. Không cần nhắc lại câu ấy họ mới nhận ra anh. Giả như người ta bảo họ đấy là Ngài Walter Raleigh[1], ngay cả họ cũng sẽ phải kinh ngạc vì cái giọng trọ trẹ của ông ta, con vẹt đuôi dài trên vai ông, khẩu súng nòng rộng giết bọn ăn thịt người của ông, nhưng chỉ có thể có một Esteban trên đời này mà thôi, và anh đấy, nằm dài tựa một con cá nhà táng, chân không giày, mặc quần một đứa trẻ loắt choắt, móng chân thì cứng như đá phải lấy dao mà gọt. Họ chỉ cần mở cái khăn phủ mặt anh là thấy anh hổ thẹn, là thấy anh to lớn như thế, nặng như thế, đẹp trai như thế đâu phải lỗi anh, và nếu biết trước những gì sẽ xảy ra hẳn anh đã tìm một chỗ kín đáo hơn mà chết đuối, thực đấy, hẳn tôi còn buộc lên cổ cái neo một đại chiến thuyền rồi loạng choạng lên vách đá nhảy xuống như một kẻ chán đời, để bây giờ thiên hạ khỏi phải khổ tâm với một cái xác ngày ăn chay, như các người nói, để không một ai phải phiền lòng với cái khúc thịt ôi lạnh tanh lanh ngắt chẳng chút dính líu gì tới tôi. Trông anh chân thực đến độ cả những người ngờ vực nhất, những người cay đắng với những đêm vô tận ngoài biển e sợ vợ họ chán mơ đến họ mà quay sang mơ những người chết đuối, cả họ cũng như những người cứng rắn hơn đều lạnh buốt xương da trước chân tình của Esteban.

Thế là họ dốc hết tâm ý cử hành tang lễ vô cùng long trọng cho một người chết đuối vô thừa nhận. Vài người đàn bà sang các làng bên kiếm hoa trở về với những người đàn bà khác đã không sao tin được câu chuyện, và những người này thấy người chết rồi lại quay về lấy thêm hoa, và họ cứ mang đến thêm mãi cho đến khi tràn đầy hoa với người khiến di chuyển rất khó khăn. Vào lúc cuối họ không đành lòng tiễn đưa anh về với biển như một đứa con côi và họ chọn cha mẹ cho anh trong số những người phúc đức nhất, lại chọn cho anh nào dì, nào dượng, nào anh chị em họ, để qua anh tất cả dân làng đều thành bà con với nhau. Có những thuỷ thủ ngoài khơi xa nghe tiếng khóc than đã cho tàu dừng lại, và người ta kể rằng một người đã tự trói mình vào cột buồm, vì nhớ đến những truyện cổ tích về các nàng nhân ngư. Trong lúc tranh nhau ghé vai khiêng anh theo nẻo dốc lên các vách đá, đàn ông cũng như đàn bà lần đầu tiên nhận ra các đường làng hiu hắt biết chừng nào, các sân nhà khô cằn biết chừng nào, các giấc mơ hẹp hòi biết chừng nào trưóc vẻ huy hoàng và tươi đẹp của người chết đuối của họ. Họ tiễn anh đi không buộc neo vào anh để anh có thể trở lại nếu và khi nào anh muốn, và ai nấy đều nín thở trong khoảnh khắc thế kỉ thi hài rơi xuống vực sâu. Họ không cần phải nhìn nhau cũng hiểu rằng họ không còn đủ mặt nữa, sẽ không bao giờ đủ mặt nữa. Nhưng họ cũng biết rằng từ nay tất cả sẽ đều khác biệt, nhà họ cửa sẽ rộng hơn, trần sẽ cao hơn, sàn sẽ chắc hơn để hồn Esteban đi đâu cũng không va đầu vào xà nhà, để sau này không còn ai dám thầm thì cái thằng đần to xác cuối cùng đã chết rồi, tệ quá, cái thằng khùng điển trai cuối cùng đã chết rồi, bởi họ sẽ sơn lại mặt tiền nhà họ bằng những màu tươi thắm để hồn Esteban còn mãi mãi, họ sẽ còng lưng đào những lạch nước giữa đá tảng và trồng hoa trên các vách đá để những năm tháng sau này, lúc rạng đông, hành khách những con tàu vượt trùng dương sẽ thức giấc, ngạt thở vì hương nồng các khu vườn ngoài khơi xa, và viên thuyền trưởng sẽ phải rời đài chỉ huy đi xuống, mình mặc lễ phục gắn đầy huy hiệu, huân chương, và, tay chỉ mỏm đất ngập hoa hồng phía chân trời, ông sẽ nói bằng mười bốn thứ tiếng, hãy coi, nơi kia gió lặng vì đã chui xuống gầm giường đi ngủ, hãy coi, nơi kia mặt trời rực rỡ đến mức hoa hướng dương không biết phải quay về hướng nào, phải, nơi ấy là làng Esteban đấy.


Nguyễn Khánh Long dịch
theo bản tiếng Anh của Gregory Rabassa
dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha
Gabriel García Márquez

[1] Nhà thám hiểm người Anh (1552-1618), từng đến Nam Mĩ nhiều lần. Chú thích của người dịch

3 tin nhắn:

[Cóc] nói...

Đúng là, kẻ chết đuối đẹp nhất thế gian :)

17:43 23 tháng 6, 2008
Bùn Thiu nói...

Dán chồng lên cái còm men kia

10:24 24 tháng 6, 2008
Dang chung nói...

l cau chuyen day tinh nhan van

17:14 24 tháng 6, 2008

Đăng nhận xét

 

2009 ·Vợ chồng trẻ - Làm cha mẹ - Mẹ và bé - Cha mẹ trẻ - Vochongtre.com | Nội dung do các Bác sĩ mê con nít. Liên hệ suckhoegd@gmail.com | Quảng cáo: Mr.Cường 0944.462.569