Chữa bệnh cho bé

Chữa bệnh cho bé
Mỗi ngày biết một bệnh

Bé biếng ăn quá

Bé biếng ăn quá
Phương pháp giúp con ăn ngon

Nuôi con thành tài

Nuôi con thành tài
Bí kíp nuôi con dạy con thông minh

Hạnh phúc gia đình

Hạnh phúc gia đình
Anh và em cùng con của chúng ta...

Sướng Ngọt

03/07/2008

Út trai cụ Phiệt, nay 28 tuổi, da trắng như trứng gà bóc, trán có vết “bớt” đỏ tròn như xoay bằng com-pa, từ nhỏ đã mắc chứng quên, nên được gia đình đặt tên là Nhớ, mục đích may ra có bớt quên chăng.

Nhớ cười suốt ngày mà không thành tiếng; trong cơn ngủ, nụ cười héo dần rồi tắt hẳn; lúc Nhớ tỉnh dậy, nụ cười lại đậu trên môi.

Nhớ ngỡ ngàng những gì hiện ra trước mắt, như thể mới gặp lần đầu.

Buồn phiền, lo lắng, ham muốn, tranh đua...thảy đều không bám được vào người Nhớ. Anh là người của phút giây hiện tại; quá khứ, tương lai không can dự vào. Nhưng cái tên Nhớ cụ Phiệt đặt cho, chẳng tác dụng gì, bởi mấy năm gần đây, chứng quên của anh đã trở nên quá quắt!

Ví như đói bụng, thì mồm anh phải bảo với tai anh rằng: “Đi ăn cơm...ăn cơm...ăn cơm...”. Có nhắc thế thì chân anh mới bước, tay anh mới tìm, nhắc cho đến khi cơm được nhai trong miệng mới thôi. Bằng không thế, thì anh sẽ quên và chịu đói suốt ngày.

Thậm chí khi tra điếu thuốc vào mồm, tay đã cầm máy lửa, miệng anh cũng bảo tai anh rằng: “Đốt thuốc...đốt thuốc...đốt thuốc...”, lẩm bẩm mãi cho đến khi bật lửa, đốt cháy điếu thuốc ra khói, lúc ấy Nhớ mới khỏi quên.

Dường như, chỉ có tai và miệng là hai vị chỉ huy trực tiếp của anh, hai vị ấy mà về hưu, anh sẽ nguy to.

Cụ Phiệt héo ruột, héo gan, bởi lẽ chứng quên của anh cứ càng trầm trọng, ắt có một ngày anh quên thở mà chết thôi.

* * *

Sáng nay, cụ Phiệt áo dài, khăn đóng, tay dù đến chùa Thủy Tĩnh, dự đám giỗ sư ông.

Vừa bước ra khỏi cửa, Nhớ chạy đến đòi theo.

Cụ nhìn nụ cười ngớ ngẩn của Nhớ một chặp, rồi nhìn cái “bớt” đỏ nơi trán Nhớ một chặp, xong cụ cắn nhẹ môi gật đầu, chìu ý.

Cụ quay vào nhà bảo lớn với vợ: “Bà thay đồ cho thằng Nhớ. Hôm nay cho nó theo tôi lên chùa”.

Nghe thế, cụ bà mở tủ lấy sơ-mi trắng, quần lam, dép xăng-đan nâu. Tất cả, cụ đặt luôn vào tay Nhớ và xô anh vào phòng. Cụ quát: “Thay đồ lẹ lên”, rồi đóng sầm cửa lại.

Bên ngoài, Cụ Phiệt ngồi uống trà chờ con...

Mặt cụ bỗng sa sầm khi nghe tiếng Nhớ văng vẳng trong phòng: “Mẹ bảo... thay đồ...thay đồ... mặc áo... mặc áo... mặc quần...mặc quần... mang dép... mang dép... mang dép...”.

Cụ hớp ngụm trà không trôi, đặt chén, thở dài...

* * *

Suốt dọc đường đến chùa Thuỷ Tĩnh, gặp hoa gì Nhớ cũng bẻ, ôm cả bó trước ngực: Nào hoa mua, hoa dâm bụt, hoa trang, hoa sim, hoa cứt chuột, hoa cơm nguội... Áo sơ-mi trắng của Nhớ lem luốc.

Vào chùa, anh cứ ôm hoa trước ngực, đứng sát mé chiếu, mở to mắt ngỡ ngàng nhìn người ta thắp hương, cúng dường, lạy vái...

Cụ Phiệt phải thúc cùi chỏ vào hông Nhớ, kề mồm sát tai: “Vào chiếu thắp hương”.

Lúc này Nhớ đang nhìn sững một cô gái đứng đối diện mé chiếu bên kia. Cô ta da đen như trôn chảo, tóc dài phết gót, có đôi mắt to đen buồn buồn của loài bò nghé xa mẹ.

Cụ Phiệt lại thúc cùi chỏ vào hông Nhớ lần nữa, nói sẵng vào tai anh: “Vào chiếu thắp hương”.

Nghe thế, Nhớ vội lớn tiếng lặp lại lời bố, mắt vẫn nhìn sững cô gái: “Vào chiếu thắp hương... Vào chiếu thắp hương...Vào chiếu thắp hương...”.

Cô gái nhìn anh một chặp, rồi ngoan ngoãn đi vào chiếu, anh cũng vào, rồi đến cụ Phiệt.

Trên bàn thờ sư ông khói hương nghi ngút, hoa quả la liệt.

Gian trong tiếng các sư tụng kinh rì rầm, âm thanh trôi nổi theo tiếng chuông mõ.

Gian ngoài, tiếng cười nói râm ran, chao đảo theo khói đốt vàng mã.

Không có chỗ trống trên bàn thờ, Nhớ đặt cả ôm hoa xuống chiếu.

Anh sụp lạy, úp mặt lên hoa.

Liếc ngang nhìn cô gái, anh bắt chước đứng dậy đốt hương. Vái xong, anh cắm ba cây hương vào bình bát, rồi cũng bắt chước cô nhìn vào di ảnh cố đại lão hoà thượng.

Anh nhìn chằm chằm vào di ảnh, đột ngột hai tay anh run rẩy như bị kinh phong, anh quỵ gối, phục đầu xuống hoa, khóc rống, mếu máo: “Sư ông nay ở Niết Bàn trong mây trên gió, có còn nhớ thằng Nhớ này không? Hả sư ông? Sư ông? Hai mươi mốt năm trước, bố con, người quỳ lạy bên cạnh đây, có sắm một máy hát đĩa quay tay lên dây cót; sư ông cũng bắt chước mọi người xóm Trạch, đã chọt thiền trượng đến nghe. Sư ông nghe tuồng “Mục Kiều Liên-Thanh Đề”, nghe nhạc mới “Trăng rụng xuống cầu”...

Sư ông ngồi càng lúc càng sát máy, rồi giang cả hai tay, như muốn ôm máy vào lòng coi thử. Sư ông nhìn máy. Sư ông ngạc nhiên. Sư ông cười sặc sụa. Sư ông thán phục. Sư ông tưởng rằng có ai trốn trong đó mà hát chắc? Không có ai đâu, Sư ông à! Kim chạy, nó chà vào đĩa, mà phát ra bài đấy. Sư ông còn nhớ không? Con được bố giao nhiệm vụ gãi lưng sư ông đến hết tuồng, suốt cả cái buổi chiều lộng gió ấy...

Gió thì thổi liên miên nhiều ngày, nhưng lá thì rụng lúc ấy, rụng ngay lúc Thanh Đề bưng chén cơm bốc lửa, một chiếc lá xoài xắn vào lưng Ngài. Sư ông đã rùng mình, nhưng chỉ nổi da gà ở chỗ chiếc lá chạm vào mà thôi. Ôi! Chiếc lá sao mà vô phép đến thế!

Lá rụng thì phải về đất, chớ sao lại ghé lưng, nơi sạch sẽ không có một chút bợn, mát lạnh như đá suối, nơi xúm xít 38 nốt ruồi son lớn bé, có ba nốt sát nách phải, mọc sợi lông màu râu bắp thai thai, chót lông cong xuống hình lưỡi câu, con nghịch nhổ một sợi, sư ông nhảy nhỏm, ách-xì một cái, ho hai cái, rồi bốc lộn hộp diêm quẹt của bố con mà cất vào túi...”.

Nghe đến đây, các sư trong chùa lật đật bỏ dùi mõ, túa đến lôi anh ra khỏi chiếu.

Cả chùa nhốn nháo...

Cụ Phiệt há hốc mồm nhìn theo anh. Cụ kinh hoàng. Hoá ra con cụ đã phục hồi trí nhớ rồi!

Cụ lật đật chạy ra khỏi chiếu, đuổi theo, hất gạt các sư và ôm Nhớ vào lòng.

Cụ khóc. Nước mắt như mưa. Cụ ngộp thở trong một niềm vui lồng lộng, cao đụng trời, rộng ngang biển, mà trong đời cụ mới gặp lần đầu.

Cụ khóc to, vang cả khu chùa. Khóc như chưa bao giờ được khóc. Càng khóc, người cụ càng nhẹ dần, buồn lo nhiều năm đã trôi theo nước mắt ra khỏi con người.

* * *

Hình như có ai đó đang bóp miệng và đánh cụ.

Cụ ú ớ... rồi mở mắt.

Trước mắt cụ là cụ bà. Cụ bà nhăn mặt gắt gỏng: “Ngủ nghê gì mà khóc dữ dằn! Khóc rống như cha chết không bằng! Ông mơ thấy gì? Hả?”.

Cụ Phiệt như vừa rơi xuống vực vừa bay lên trời, chân tay chìm xuống, đầu cổ trồi lên. Người cụ như đứt lìa.

Cụ bà “Hừ” một tiếng, bực dọc bỏ đi ra ngoài.

Còn một mình, cụ Phiệt cựa mình, lẩm bẩm: “Ta không có út nào tên là Nhớ cả. Út nhà ta tên là Đức kia mà. Nó đã vợ con đề huề ở Đà Lạt. Nó đâu có bị chứng quên! Lạ thật! Quái thật!”.

Cụ chùi nước mắt, ngồi dậy, lê chân ra bàn nước, pha trà mới. Cụ bỏ nhiều trà, lúc này cụ muốn uống đặc cho tĩnh trí.

Cụ nhìn cái hộp đựng chiếc máy hát đĩa quay tay cũ, nằm đóng bụi nơi góc nhà, mà đầu óc loãng ra. Cụ lưỡng lự, mấy ngón tay cứ vê vào nhau.

Bỗng cụ gọi to: “Bà ơi vào đây tôi bảo”.

Cụ bà từ bếp đi lên, tay cầm cái rổ: “Ông kêu cái gì?”.

“Ban nãy bà có lấy quần áo thay cho thằng Nhớ không? Trước khi tôi và nó đi chùa đấy?”.

Cụ Bà há hốc mồm, kẹp chặt cái rổ vào nách: “Quần áo gì? Thằng Nhớ nào? Chùa nào? Hôm nay ông đứt dây rồi sao?”.

Cụ Phiệt véo vào bắp vế mình nghe đau. Cụ bảo: “Thôi bà làm việc đi. Tôi đúng là chiêm bao”.

Tuy miệng nói thế, nhưng bụng cụ cứ thờ thẫn, đầu cụ vẫn hoang mang.

Cuộc sống hiện thực cụ đang ngồi đây, cuộc sống ấy không đậm nét bằng cuộc sống trong mơ vừa rồi. Nó chưa bao giờ buộc cụ phải lo buồn đau khổ vì tương lai tối tăm của một đứa con. Nó chưa bao giờ buộc cụ phải khóc oà lên vui sướng, vì thấy tương lai đứa con lại sáng.

Cụ buột miệng phân vân: “Cuộc sống nào là thực nhỉ?”.

Trong tầng sâu tâm hồn, cụ rơi vào lưỡng lự nhiều hơn.

Cụ nhìn xung quanh quan sát. Cụ căng tai, căng mắt, dồn hết tâm trí vào khoảng không. Cụ gọi lớn: “Thằng Nhớ ra đây tao bảo”. Cụ lặp lại: “Thằng Nhớ ra đây tao bảo”.

Căn phòng vẫn yên lặng, tất cả đồ vật đều giữ nguyên vị trí. Không một xao động, cho dù là một làn hơi. Im lặng tràn im lặng.

Cụ bà có lẽ vừa đi đâu đó, không có ở đây.

Bỗng cụ Phiệt cười lớn tự nói một mình: “Nó đi chơi rồi. Có gọi cũng mỏi mồm thôi! Thằng Nhớ đi chơi rồi!”.

* * *

Cụ Phiệt trợn mắt, hỏi Nhớ: “Con nào nó chịu ưng mày?”.

Nhớ cười, vòng tay thưa: “Cô Quên tóc phết gót, da đen hôm đám giỗ sư ông đó. Bố không trông thấy à?”.

“Thế nhà nó ở đâu?”.

“Con dẫn bố đi nhé”.

Cụ cười: “Thế mấy bữa rày vắng nhà là mày theo con Quên?”.

Nhớ gãi tai: “Dạ!”.

Cụ lo lắng: “Mày nhịn đói mà sống à?”.

Nhớ gãi cằm: “Cô Quên có thức ăn”.

Cụ cười to, lòng nhẹ nhõm. Nhớ có bạn gái là một sự kiện trọng đại thứ nhì, sau sự kiện trọng đại phục hồi trí nhớ, đã nâng niềm vui to tát của cụ cao vời vợi: “Đại kiết. Đại kiết!”.

Cụ liền thay đồ tươm tất, xách dù theo Nhớ.

Khi ngang qua cánh rừng hoa mua nở bạt ngàn, một màu đỏ thênh thang chập chờn như chìm xuống, như bồng lên. Đầu óc cụ tan ra, cũng dập dềnh theo màu đỏ của hoa.

Bỗng Nhớ bấm tay cụ: “Bố ghé thăm sư ông hoà thượng một chút không? Chỗ Ngài gần đây”.

Cụ kinh ngạc: “Sao? Ngài ở gần đây à?”.

Nhớ cười đáp: “Con mới biết do cô Quên dẫn đi”.

Cụ theo Nhớ rẽ vào tay trái. Đi suốt theo một hàng trúc mát rượi, cụ thấy một cái đồi. Dưới tán cây Mùa Cua vĩ đại, có ẩn một ngôi nhà nhỏ.

Cụ để ý suốt trên đường đi, không có lá rụng, hoa rụng. Cụ phân vân. Chả lẽ ở đây, lá hoa không héo, không tàn ư?

Như biết có khách, sư ông ra đón.

Cụ ngỡ ngàng khi thấy sư ông vẫn như xưa.

Vẫn đôi lông mày bạc trắng, da thịt hồng hào mát mẻ, vẫn tiếng nói cười rổn rảng. Bên trong của con người sư ông như thông thương ra bên ngoài.

Đạo đức sư ông đại hoà thượng hiện ra ngoài da thịt, đạo đức ấy nằm trong cả dáng đi, nơi vạt áo, trong tiếng nói tiếng cười, nơi ngón tay ngón chân... Đạo đức nơi sư ông, cụ có thể sờ nắn được hoặc xin đem về nhà.

Ngôi nhà sư ông thật đơn sơ, mái lợp tranh, vách bằng phên trúc. Sư ông không có chùa nữa. Sư ông sống như người thường, một người thường.

Khi ngồi vào bàn (cái bàn là một gốc cây cổ thụ còn sống, nó quỳ xuống, bằng phẳng một đoạn, rồi thân nó lại vươn lên, tỏa cành, tỏa lá), cụ Phiệt chắp tay nói: “Lâu quá tôi mới được hân hạnh gặp Ngài. Xin hỏi vô phép, đây phải chốn Niết Bàn không?”.

Đại lão hoà thượng cười to, vén áo gãi rốn: “Niết Bàn?”. Ngài nhướng đôi lông mày bạc trắng, nói tiếp: “Ta từng nghe, từng cầu, nhưng chưa từng thấy, từng gặp. Còn chỗ này đây, chỉ là chỗ không tranh, không quyết, nên không hy vọng, cũng không thất vọng. Không có đạo đức hoặc vô đạo đức ở đây. Không có đau khổ cũng như sung sướng ở đây. Đây, chỉ là nơi thanh thản nhẹ nhàng”.

Nói xong, hoà thượng nghiêng ống tay áo xuống bàn, rớt ra một hộp diêm quẹt đã cũ.

Hoà thượng nhìn cụ, Ngài lại cười rổn rảng: “Lúc trước tôi cầm nhầm cái quẹt diêm của cụ mà quên bẵng. Thằng Nhớ nhắc tôi mới hay. Nay xin gửi lại”. Ngài nhặt bao diêm đặt vào tay cụ, rồi vỗ vai, nói tiếp: “Ở đây tôi không xài diêm quẹt. Tôi không tụng kinh nữa, nên không cần ánh sáng. Ở đây tôi sống thô sơ”.

Đại lão hoà thượng ho mấy tiếng, rồi tiếp: “Thôi! Cụ đi thăm con dâu tương lai của cụ đi. Tôi đi nghỉ đây”.

Cụ Phiệt rùng mình. Xương sống cụ như có luồng nước đá lướt qua.

Cầm hộp diêm quẹt nơi tay, cụ chắp tay cúi đầu vái chào hoà thượng, rồi bần thần quay gót.

Cha con cụ đi xuống đồi...

Cụ bảo Nhớ: “Ta muốn ở nơi này quá. Có con người mà như vắng con người. Tuyệt làm sao! Gió thì cứ đằng sau đẩy nhẹ ta tới. Đi hướng nào gió cũng thế”.

Bỗng Nhớ nắm tay cụ, kéo về phía phải: “Nhà cô Quên đây rồi”.

Nhớ vừa nói xong, là cụ đã thấy mình ở trong nhà của Quên rồi.

Ngôi nhà vắng lặng quá, hoang sơ quá! Hoa lan mọc lòng thòng trên tường, toả hương thoang thoảng.

Cụ hỏi: “Nhà cô Quên đây ư?”.

Nhớ đáp: “Dạ”.

Vừa lúc ấy cô Quên từ ngoài đi vào, mặc áo lam rộng, vai vác bó củi. Cô quăng bó củi xuống sân kêu “ầm”.

Cụ Phiệt giật mình nhìn ra cửa.

Cụ ngẩn người khi thấy con Ki sủa vang trong sân, lại có tiếng cụ bà từ bếp vọng lên: “Chó sủa ai thế? Ông ra xem nào?”.

Cụ dụi mắt, thẫn thờ bưng tách trà uống dở, trà đã nguội lạnh.

Cụ buồn phiền: “Ta chưa gặp mặt con dâu, mà đã về rồi ư? Ta vội vã chuyện gì? Vội vã chuyện gì?”.

Cụ lê gót vào giường nằm, nhìn lên trần, thấy có trách nhiệm mình lơ lửng ở đấy, một trách nhiệm vô hình vô tướng mà cụ không tự hành động được, cách duy nhất để hoàn thành là chờ đợi và vâng lời. Trách nhiệm cưới vợ cho con! Cho thằng Nhớ!

Rồi cụ cười thầm, lẩm bẩm: “Gì đi nữa, thằng Nhớ đã là con và mình là bố nó!”.

Cụ bỗng thấy lòng thanh thản, khi biết tương lai của thằng Nhớ ổn định. Cụ lại cười: “Nó là con ta ở một chốn khác. Thằng Nhớ ấy, nó sắp có vợ là Quên”.

Rồi cụ tiếp: “Phải mời cả sư ông nữa”. Rồi cụ lại tiếp: “Như thế mới được”. Đoạn, cụ nhắm mắt với một nụ cười mãn nguyện trên môi.

Đột ngột, cụ thấy có làn sương bay vào nhà, tràn qua cụ mát mẻ lạ thường. Cụ liếm môi nghe ngọt...

Ngô Phan Lưu

0 tin nhắn:

Đăng nhận xét

 

2009 ·Vợ chồng trẻ - Làm cha mẹ - Mẹ và bé - Cha mẹ trẻ - Vochongtre.com | Nội dung do các Bác sĩ mê con nít. Liên hệ suckhoegd@gmail.com | Quảng cáo: Mr.Cường 0944.462.569